Phải đọc Tin Mừng như thế nào, để không những hiểu được ý Chúa, mà còn cảm nghiệm được tâm tình của Chúa nữa. Hiểu và cảm mới đưa người đọc đến gặp gỡ Đức Giê-su. Loan báo Tin Mừng tạo cuộc gặp gỡ giữa Đức Giê-su và anh chị em chưa biết Người. Giải quyết thế nào khi các Tin Mừng trùng lặp nhau? Thứ đến, năm phụng vụ không khớp với diễn tiến của câu chuyện Tin Mừng. Chúa Giêsu và Satan sẽ lên đến đỉnh điểm trong câu chuyện khổ nạn khi Satan lại xuất hiện như kẻ chiến thắng. Ta đọc thấy trong thư gởi Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến đời sống của các tầng lớp nhân dân, nhất là vào dịp lễ, tết. Nhân dịp tết Nguyên đán Canh Tý, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài "Mừng tết Nguyên đán như thế nào?" đăng trên Báo Nhân Dân số + ĐỌC TIN MỪNG: Lc 11, 29-32. nào, ngoài dấu lạ ông Giô-na. Quả thật, ông Giô-na đã là một dấu lạ cho dân thành Ni-ni-vê thế nào, thì Con Người cũng sẽ là một dấu lạ cho thế hệ này như vậy. Thánh Luca mà chúng ta mừng kính hôm nay là một tác giả chép Tin Mừng Hỏi: Chúng ta thật có phúc khi biết được điều này chị Vicka! Đáp: Vâng, Đức Mẹ đã nói rằng nếu một người muốn biết Chúa Giêsu thì phải đọc "Phúc Âm Như Đã Được Vén Mở Cho Tôi" của bà Maria Valtorta. Cuốn sách này là sự thật. Vào cuối thập niên 1990 Trung tâm Vay Tiền Trả Góp Theo Tháng Chỉ Cần Cmnd. Thần học online Thánh Kinh nhập môn Bài 20 Khái quát về các sách Tin Mừng Nhất Lãm – Các tác giả Mátthêu, Máccô và Luca trình bày 3 sách Tin Mừng theo một thứ tự chung giống nhau, thậm chí thể hiện cùng một lối nhìn. Do đó, 3 sách Tin Mừng này được gọi là các sách Tin Mừng Nhất Lãm – Vấn đề Nhất Lãm được giải thích từ truyền thống truyền khẩu và bản văn được ghi lại, các nguồn văn, các tác giả, soạn giả và đời sống của cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi. – Thuyết hai nguồn Tin Mừng theo thánh Máccô xuất hiện trước. – Thuyết ba nguồn Tin Mừng Mátthêu và Luca sử dụng nguồn Tin Mừng Máccô, và sử dụng nguồn sưu tập các danh ngôn của Đức Giêsu logia bằng tiếng Aram, do Mátthêu soạn thảo. – Giả thuyết khác Các Tin Mừng được hình thành từ truyền thống bắt đầu từ Đức Giêsu và tiếp diễn trong đời sống Giáo hội dùng tiếng Aram, sau đó đến tiếng Hy lạp. Trong buổi tiếp kiến chung dành cho các tín hữu vào sáng thứ Tư 1/9/2021 Đức Thánh Cha nhắn nhủ các tín hữu rằng khi nói với người Galát, thánh Phaolô cũng nói với chúng ta; ngài mời gọi mỗi người chúng ta hãy vui mừng trong ơn công chính hoá mà chúng ta đã nhận được nhờ tin vào Chúa Kitô và trở nên chứng nhân thuyết phục về tình yêu thương xót của Thiên Chúa trong cách chúng ta sống cuộc sống hàng ngày của mình. Đức Thánh Cha cũng mời gọi các tín hữu suy nghĩ xem mình sống đức tin như thế nào. Hồng Thủy - Vatican News Đức Thánh Cha tiếp tục loạt bài giáo lý về thư thánh Phaolô gửi tín hữu Galát. Trong đoạn thư được đọc khi bắt đầu buổi tiếp kiến, thánh Phaolô đã quở trách các tín hữu Galát là những người ngu xuẩn; ngài cảnh báo họ trước nguy hiểm lìa xa đức tin vào Chúa Kitô. Thánh nhân nói với họ “Ai đã mê hoặc anh em là những người đã được thấy hình ảnh Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh vào thập giá phơi bày ra trước mắt? Tôi muốn anh em cho tôi biết điều này thôi anh em đã nhận được Thần Khí vì đã làm những gì Luật dạy, hay vì đã tin nhờ được nghe? Anh em ngu xuẩn như thế sao? Anh em đã khởi sự nhờ Thần Khí, nay lại kết thúc nhờ xác thịt sao? Đức Thánh Cha giải thích với các tín hữu rằng trong thư gửi tín hữu Galát, thánh Phaolô nhấn mạnh đến sự mới mẻ của sự sống trong Chúa Kitô, là điều giúp các Kitô hữu thoát khỏi việc thực hành tôn giáo chỉ dựa trên việc tuân giữ tỉ mỉ các giới luật. Thánh Phaolô nhắc nhở người Galát về ơn cứu độ mà họ nhận được nhờ đức tin vào sứ điệp của Phúc âm về sự chết và sự phục sinh của Chúa Kitô, và kinh nghiệm của họ về việc được tràn đầy Thần Khí. Thánh nhân cũng trình bày kinh nghiệm cá nhân của ngài về ân sủng và sự tự do do do đức tin vào Chúa Giêsu bị đóng đinh mang lại Gl 2,20. Đức Thánh Cha bắt đầu bài giáo lý như sau Nguy hiểm xa rời con đường đức tin và bị rơi vào chủ nghĩa hình thức Anh chị em thân mến, chào anh chị em! Trong các bài giáo lý trước, chúng ta đã thấy thánh Tông đồ Phaolô chỉ cho các Kitô hữu đầu tiên của Galát thấy rằng khi rời khỏi con đường họ đã bắt đầu khi đón nhận Phúc Âm thì nguy hiểm thế nào. Thực tế, điều nguy hiểm chính là rơi vào chủ nghĩa hình thức - là một trong những cám dỗ dẫn chúng ta đến thói đạo đức giả, điều mà chúng ta đã nói lần trước - và phủ nhận phẩm giá mới mà họ đã nhận được phẩm giá của những người được Chúa Kitô cứu chuộc. Đoạn sách Thánh chúng ta vừa nghe bắt đầu phần thứ hai của lá thư anh chị em hãy đọc nó nếu có thời gian. Cho đến lúc này, thánh Phaolô đã nói về cuộc đời và ơn gọi của ngài về cách mà ân sủng của Thiên Chúa đã biến đổi cuộc sống của ngài và dành nó hoàn toàn cho sứ vụ loan báo Tin Mừng. Về điểm này, ngài đặt câu hỏi trực tiếp cho các tín hữu Galát ngài đặt họ trước những lựa chọn mà họ đã chọn và trước tình cảnh hiện tại của họ, điều có thể làm mất đi kinh nghiệm ân sủng họ đã sống. Và những từ ngữ mà thánh Tông đồ dùng để nói với tín hữu Galát chắc chắn không phải là những lời lịch thiệp chúng ta đã nghe điều đó. Trong các Thư khác, chúng ta dễ dàng tìm thấy cụm từ “anh chị em” hoặc “anh chị em yêu quý”; ở đây thì không. Bởi vì ngài đang tức giận. Ngài nói một cách chung chung “những người Galát” và hai lần ngài gọi họ là “những kẻ ngu xuẩn”. Ngài làm điều đó không phải vì họ không thông minh, nhưng vì hầu như họ không nhận ra họ có nguy cơ đánh mất niềm tin vào Chúa Kitô mà họ đã nhiệt thành đón nhận. Họ dại dột vì họ không nhận ra rằng điều nguy hiểm là đánh mất kho tàng quý giá, vẻ đẹp, của sự mới mẻ của Chúa Kitô. Rõ ràng thánh Tông đồ rất ngạc nhiên và buồn bã. Không phải là ngài không cảm thấy cay đắng, ngài đã kêu gọi các Kitô hữu đó nhớ lại lời loan báo đầu tiên mà ngài trao cho họ, điều mà qua đó ngài mang lại cho họ cơ hội có được một sự tự do mới, điều cho đến tận lúc này vẫn không có hy vọng Tình yêu của Chúa Kitô - nguồn ơn cứu độ Thánh tông đồ hỏi những người Galát một số câu hỏi nhắm lay chuyển lương tâm của họ đây là lý do tại sao ngài rất mạnh mẽ. Đây là những câu hỏi tu từ, vì người Galát biết rất rõ rằng việc họ đến với đức tin vào Chúa Kitô là kết quả của ân sủng nhận được nhờ lời rao giảng Tin Mừng. Nó đưa họ đến với sự khởi đầu của ơn gọi Kitô hữu. Lời mà họ đã nghe từ thánh Phaolô tập trung vào tình yêu thương của Thiên Chúa, được thể hiện trọn vẹn qua cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêu. Thánh Phaolô không thể tìm được cách diễn đạt thuyết phục hơn điều mà có lẽ ngài đã lặp lại với họ nhiều lần trong khi rao giảng “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi. Hiện nay tôi sống kiếp phàm nhân trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi” Gl 2, 20. Thánh Phaolô không muốn biết gì khác ngoài Chúa Kitô chịu đóng đinh x. 1Cr 2, 2. Người Galát phải chú ý đến sự kiện này, không để cho mình bị phân tâm bởi những lời loan báo khác. Nói tóm lại, ý định của thánh Phaolô là buộc các Kitô hữu nhận ra vấn đề và không để mình bị mê hoặc bởi tiếng còi muốn dẫn họ đến một thực hành tôn giáo chỉ dựa trên việc tuân thủ tỉ mỉ các giới luật. Bởi vì những nhà truyền giáo mới đến Galát và thuyết phục người Galát rằng họ phải quay trở lại và tuân theo các giới luật, những giới luật đã được tuân giữ và chúng đã đưa họ đến sự hoàn thiện trước khi Chúa Kitô đến, Đấng mang ơn cứu độ cách nhưng không. Đừng đặt Chúa Thánh Thần ở vị trí thứ yếu Mặt khác, những người Galát hiểu rất rõ điều mà thánh Tông đồ muốn nói đến. Chắc chắn họ đã cảm nghiệm được tác động của Chúa Thánh Thần trong các cộng đoàn lòng bác ái và nhiều đặc sủng khác cũng được thể hiện trong các Giáo hội khác cũng như ở giữa họ. Khi bị thúc ép, họ phải trả lời rằng những gì họ đã trải nghiệm là hoa trái của sự mới mẻ của Thần Khí. Do đó, họ bắt đầu đến với đức tin là sáng kiến ​​của Thiên Chúa, chứ không phải của loài người. Chúa Thánh Linh là tác nhân trong kinh nghiệm của họ; giờ đây, đặt Người vào thứ yếu để dành ưu tiên cho các hoạt động của mình - nghĩa là để thực hiện các giới luật của Lề Luật – thật là điều ngu ngốc. Sự thánh thiện đến từ Chúa Thánh Linh và đó là ơn cứu độ được ban nhưng không của Chúa Giêsu điều này làm cho chúng ta được trở nên công chính. Chúa Kitô chịu đóng đinh và sống lại có vẫn là trung tâm của cuộc sống hàng ngày của tôi không? Theo cách này, thánh Phaolô cũng mời gọi chúng ta suy tư về cách chúng ta sống đức tin. Tình yêu của Chúa Kitô chịu đóng đinh và sống lại có vẫn là trung tâm của cuộc sống hàng ngày của chúng ta như nguồn cứu rỗi, hay chúng ta hài lòng với một số hình thức tôn giáo để cứu vãn lương tâm của chúng ta? Chúng ta sống đức tin như thế nào? Chúng ta có gắn bó với kho tàng quý giá, với vẻ đẹp của sự mới mẻ của Chúa Kitô, hay chúng ta thích điều gì đó thu hút chúng ta vào lúc này nhưng sau đó lại để tâm hồn chúng ta trống vắng? Sự phù du thường gõ cửa vào ban ngày, nhưng đó là một ảo ảnh đáng buồn, khiến chúng ta rơi vào sự hời hợt và ngăn cản chúng ta nhận ra điều gì thực sự đáng để chúng ta sống vì đó. Tuy nhiên, thưa anh chị em, chúng ta hãy vững tin rằng, ngay cả khi chúng ta bị cám dỗ quay lưng, Thiên Chúa vẫn tiếp tục ban tặng các ân sủng của Nguời. Những điều đã xảy ra với người Galát cũng thường xảy ra trong lịch sử, cũng xảy ra hôm nay. Thậm chí ngày nay, một số người đến rỉ rả vào tai chúng ta “Không, sự thánh thiện nằm trong những giới luật này, trong những điều này, bạn phải làm điều này và điều này”, và họ đưa ra chúng ta đến việc thực hành tôn giáo cứng nhắc, sự cứng nhắc làm mất đi sự tự do trong Chúa Thánh Linh, Đấng ban cho chúng ta ơn cứu độ của Chúa Kitô. Hãy cẩn thận với sự cứng nhắc mà họ đề xuất với anh chị em hãy cẩn thận. Bởi vì đằng sau mọi sự cứng nhắc đều có điều gì đó xấu, không có Thánh Thần của Thiên Chúa. Và vì lý do này, Thư này sẽ giúp chúng ta không nghe theo những đề xuất hơi cực đoan, khiến chúng ta bước lùi trong đời sống thiêng liêng của mình, và nó sẽ giúp chúng ta tiến bước trong ơn gọi Phục sinh của Chúa Giêsu. Thiên Chúa không bỏ rơi chúng ta Đây là điều mà thánh Tông đồ khẳng định với các tín hữu Galát, khi nhắc lại rằng Chúa Cha “rộng ban Thần Khí cho anh em và thực hiện những phép lạ ở giữa anh em” 3, 5. Ngài dùng thì hiện tại - “cho”, “thực hiện” - không dùng thì quá khứ. Ngài không nói “Chúa Cha đã rộng ban Thần Khí”, chương 3, câu 5. Bởi vì, bất chấp mọi khó khăn mà chúng ta có thể gây ra cho hoạt động của Người, cho dù chúng ta tội lỗi, Thiên Chúa không bỏ rơi chúng ta mà vẫn ở lại với chúng ta bằng tình yêu thương xót của Người. Thiên Chúa luôn gần gũi chúng ta bằng lòng nhân từ của Người. Cũng giống như người cha ngày nào cũng lên sân thượng nhìn xem con mình có trở về Chúa Cha không mệt mỏi yêu thương chúng ta. Chúng ta hãy xin ơn khôn ngoan để luôn ý thức về thực tại này và loại bỏ những tư tưởng thủ cựu đưa chúng ta đến một cuộc sống khổ hạnh giả tạo, xa rời sự phục sinh của Chúa Kitô. Khổ hạnh là cần thiết, nhưng khổ hạnh cách khôn ngoan, không phải là giả tạo. Ngày Thế giới cầu nguyện cho việc chăm sóc thụ tạo Trong lời chào các tín hữu bằng tiếng Ý, Đức Thánh Cha nhắc rằng ngày 1/9 là Ngày Thế giới cầu nguyện cho việc chăm sóc thụ tạo, và bắt đầu “Thời gian của Thụ tạo”, thời gian sẽ kết thúc vào ngày 4/10, lễ thánh Phanxicô Assisi. Đức Thánh Cha nhắc rằng đề tài của Ngày này năm nay là “Một căn nhà cho tất cả? Canh tân Ngôi nhà của Thiên Chúa”. Đức Thánh Cha cho biết ngài cùng với Đức Thượng phụ Bartolomeo của Chính Thống và Đức tổng giám mục Justin Welby của Anh giáo đã viết một Sứ điệp nhân Ngày này. Sứ điệp sẽ được công bố trong những ngày tới đây. Đức Thánh Cha mời gọi “Cùng với các anh chị em của các Giáo hội Kitô khác, chúng ta hãy cầu nguyện và hành động vì ngôi nhà chung của chúng ta, trong thời gian khủng hoảng của hành tinh này”. CHÚA NHẬT I MÙA VỌNG, NĂM A I. ĐỌC TIN MỪNG Mt 24,37-44 “Quả thế, thời ông Nô-ê thế nào, thì ngày Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy. Vì trong những ngày trước nạn hồng thuỷ, thiên hạ vẫn ăn uống, cưới vợ lấy chồng, mãi cho đến ngày ông Nô-ê vào tàu. Họ không hay biết gì, cho đến khi nạn hồng thủy ập tới cuốn đi hết thảy. Ngày Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy. Bấy giờ, hai người đàn ông đang làm ruộng, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại; hai người đàn bà đang kéo cối xay, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại. “Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến. Anh em hãy biết điều này nếu chủ nhà biết vào canh nào kẻ trộm sẽ đến, hẳn ông đã thức, không để nó khoét vách nhà mình đâu. Cho nên anh em cũng vậy, anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến. II. SUY NIỆM “CHỜ ĐỢI” Mùa Vọng là Mùa chuẩn bị đón mừng Đại Lễ Giáng Sinh, kính nhớ việc Con Thiên Chúa đến lần thứ nhất với loài người; đồng thời qua việc kính nhớ này, các tín hữu hướng lòng trông đợi Chúa Kitô đến lần thứ hai trong ngày tận thế x. AC 39. Chính vì vậy mà trong Chúa Nhật đầu tiên của năm Phụng Vụ hôm nay, Giáo Hội cho chúng ta nghe bài Tin Mừng về việc tỉnh thức và chờ đợi ngày quang lâm của Chúa Giêsu Kitô. Tin vào ngày tận thế, tức ngày Chúa quang lâm là một trong những điểm nòng cốt của Kitô giáo. Hàng ngày, trong Thánh Lễ, các tín hữu tuyên xưng sau truyền phép “Lạy Chúa, chúng con loan truyền việc Chúa chịu chết và tuyên xưng việc Chúa sống lại, cho tới khi Chúa lại đến”. “Chúa lại đến”. Đức Giêsu nói rằng thực tại thần linh này không đến một cách hiển nhiên có thể quan sát được. Một điều chắc chắn là có chung kết lịch sử, nhưng không một ai từ hàng chư thánh, các thiên thần đến loài người được biết về thời gian ngày tận thế. 1. Tính bất ngờ của ngày quang lâm. Nước Thiên Chúa sẽ thành tựu ở một thời điểm mà không ai biết trước được vào ngày Chúa Giêsu sẽ quang lâm. Thiên Chúa quả thực đã đặt để trong lòng con người hạt giống của sự sống vĩnh cửu, hạt giống ấy chỉ có thể nẩy mầm trên thửa đất của hiện tại mà thôi không thể đi vào vĩnh cửu mà không bước qua hiện tại, không thể yêu mến vĩnh cửu mà lại khước từ hiện tại. Tính cách bất ngờ của Ngày Chúa ến, nên đòi hỏi các tín hữu phải luôn tỉnh thức. Tỉnh thức có nghĩa là dấn thân tích cực trong giây phút hiện tại, chứ không phải là ăn không ngồi rồi mà chờ đợi. Chúa Giêsu dùng sự tích trong Cựu Ước để cảnh báo tính bất ngờ của một biến cố rất lớn lao và chắc chắn sẽ xảy đến. Đó là biến cố cánh chung, Chúa lại đến cách chung cuộc để cho ý nghĩa của mọi tạo vật được tỏ hiện. Và để minh họa cho tính bất ngờ của ngày tận thế ấy, Chúa Giêsu dùng sự kiện cụ thể trong thời Cựu Ước, đó là lụt Đại Hồng Thủy thời Nôe để mời gọi con người phải có thái độ sẵn sàng cho ngày ấy. Ngày tận thế sẽ đến bất ngờ và nhanh chóng và cái chết cũng đến với mỗi người bất ngờ như vậy. Vì thế, cần luôn tỉnh thức cầu nguyện và chuẩn bị hành trang thiêng liêng là làm việc lành phúc đức, để khi Chúa đến, Người sẽ gặp thấy chúng ta là những người đầy tớ trung thành và khôn ngoan và triều đại Thiên Chúa sẽ thuộc về ai bền chí đến cùng. 2. Một sự phân định dứt khoát. Ngày tận thế, khi cuộc phán xét chung diễn ra. Đó là lúc chương trình của Thiên Chúa được hoàn tất, là ngày mà từng người đối mặt với vấn đề thiết yếu nhất của mình được cứu độ hay không được cứu độ “Ai sẽ được đem đi và ai bị bỏ lại”. Hai người cùng làm một nghề, nhưng một người được đem đi và một người bị bỏ lại. Nghĩa là, lúc này, những người cùng trong một hoàn cảnh, sẽ đối xử bằng những cách đối nghịch nhau. Trong bối cảnh này, việc phân biệt đối xử giữa họ không phải là làm chức này cấp nọ, cũng không có nghề nghiệp nào là bảo đảm được cứu độ, không phải bậc tu trì hay giáo dân là được ưu tiên, nhưng sẽ được cứu độ dựa trên việc họ sẵn sàng như thế nào để đón chào Chúa đến. Ngày kẻ lành được thưởng công và kẻ dữ bị tiêu diệt. Chính vì thế, mỗi người được mời gọi sống trong tâm thế sẵn sàng đón Chúa quang lâm, trong khi vẫn dấn thân xây dựng trần thế tốt đẹp theo ý Chúa. Việc sẵn sàng đối diện với ngày Chúa đến không phải lo tích trữ đèn nến hay lương thực để đối phó vì chỉ vô ích mà hãy lo chuẩn bị tâm hồn trong sạch để xứng đáng với ngày Vua Công Chính ngự đến. Với một tinh thần trách nhiệm và với một tinh thần phục vụ quên mình, Người Kitô hữu luôn dấn thân vào mọi ngõ ngách cuộc đời và làm chứng cho Tin Mừng khi sống chu toàn bổn phận của mình, khi sống hết trách nhiệm với tha nhân và trong tinh thần phục vụ quên mình. Có như vậy, mới đáng được Chúa thưởng công. Lạy Chúa Giêsu, cuộc sống mai sau được dệt bằng những gì chúng con đã nói và hành động nơi dương thế này. Xin cho chúng con trong khi hướng về quê trời thì cũng biết chu toàn bổn phận và trách nhiệm làm người con Chúa nơi cuộc lữ hành trần thế hôm nay, để khi Chúa đến, chúng con được cùng Chúa vào hưởng phúc bất diệt. Amen. Hiền Lâm *** CHÚA NHẬT I MÙA VỌNG, NĂM B I. ĐỌC TIN MỪNG Mc 13,33-37 “Anh em phải coi chừng, phải tỉnh thức, vì anh em không biết khi nào thời ấy đến. Cũng như người kia trẩy phương xa, để nhà lại, trao quyền cho các đầy tớ của mình, chỉ định cho mỗi người một việc, và ra lệnh cho người giữ cửa phải canh thức. Vậy anh em phải canh thức, vì anh em không biết khi nào chủ nhà đến Lúc chập tối hay nửa đêm, lúc gà gáy hay tảng sáng. Anh em phải canh thức, kẻo lỡ ra ông chủ đến bất thần, bắt gặp anh em đang ngủ. Điều Thầy nói với anh em đây, Thầy cũng nói với hết thảy mọi người là phải canh thức! “ II. SUY NIỆM “TỈNH THỨC” Bài Tin Mừng Chúa Nhật đầu tiên của năm Phụng Vụ hôm nay, Chúa Giêsu nói rằng “ngày Chúa đến” không đến một cách hiển nhiên có thể quan sát được. Một điều chắc chắn là có chung kết lịch sử, nhưng không một ai từ hàng chư thánh, các thiên thần đến loài người được biết về thời gian ngày tận thế. 1. Chúa đến bất thình lình. Ngày Chúa ến rất bất ngờ, nên đòi hỏi các tín hữu phải luôn tỉnh thức. Tỉnh thức có nghĩa là dấn thân tích cực trong giây phút hiện tại, chứ không phải là ăn không ngồi rồi mà chờ đợi. Điều không chắc chắn là không ấn định một ngày giờ cụ thể, nhưng điều chắc chắn là có ngày Chúa lại đến. Cũng như không ai biết mình chết ngày nào, nhưng chắc chắn là không sớm thì muộn mình cũng sẽ chết. Ngày tận thế sẽ đến bất ngờ và nhanh chóng và cái chết cũng đến với mỗi người bất ngờ như vậy. Vì thế, cần luôn tỉnh thức cầu nguyện và chuẩn bị hành trang thiêng liêng là làm việc lành phúc đức, để khi Chúa đến, Người sẽ gặp thấy người đầy tớ trung thành và khôn ngoan và triều đại Thiên Chúa sẽ thuộc về họ. Chuyện Chúa đến không phải kiểu “sứ điệp này thị nhân nọ” tiên đoán, để rồi nhiều người mê muội cả tin lo đi chuẩn bị đồ ăn dự trữ, rốt cuộc chẳg xảy ra. Chúa đến bất kỳ lúc nào, bất ngờ như vậy để con người bày tỏ lòng trung tín qua việc tỉnh thức đợi chờ thời khắc vô cùng quan trọng để được hưởng hạnh phúc hay bị luận phạt đời đời. Vì nếu biết, thì con người sẽ phóng túng, “cứ để mình ra nặng nề vì chè chén say sưa, lo lắng sự đời…” Lc 21,34, chờ sắp đến ngày chết mới lo liệu, và như vậy thì không còn gì là yêu mến và trung thành. 2. Thái độ sẵn sàng Chúa lại đến cách chung cuộc để cho ý nghĩa của mọi tạo vật được tỏ hiện. Điều này được Chúa Giêsu ví như một ông chủ đi công tác xa và giao quyền giữ cửa cho đầy tớ ở nhà và ra lệnh họ phải tỉnh thức, nhằm cảnh báo tính bất ngờ của một một sự trở về đầy bất ngờ nhưng chắc chắn sẽ xảy đến. Chính vì thế, người đầy tớ ở nhà cần tỉnh thức và chu toàn bổn phận chủ giao phó – Như người quản gia trung tín và có trách nhiệm Một người quản gia trung tín khôn ngoan được biểu lộ qua việc luôn chu toàn công việc bổn phận là cứ đúng giờ cấp phát lương thực cho gia nhân; có tinh thần trách nhiệm sẽ luôn canh thức để tránh cho trộm khỏi đến đào ngạch khoét vách nhà mình. Một người làm việc có tinh thần trách nhiệm cao sẽ được hưởng hoa trái là hạnh phúc và sự bình an trong tâm hồn như người ta thường nói “Cẩn tắc vô ưu”. – Như người đầy tớ khôn ngoan Tỉnh thức không phải là không ngủ, nhưng là ngủ trong tình trạng tỉnh thức, giống như người đầy tớ trung tín đợi chủ đi ăn cưới về vào bất cứ giờ nào trong đêm để khi chủ về gõ cửa là mở ngay. – Như một sự biểu lộ niềm tin Nghĩa là tin chắc chủ sẽ về và thao thức chờ đợi, tin chủ sẽ ân thưởng cho tôi tớ trung thành. – Như một tâm tình yêu mến Người đầy tớ trung tín, quán xuyến việc nhà khi chủ đi vắng, tận tâm chu đáo trong bổn phận hằng ngày. Anh ta làm việc tích cực y như có chủ ở nhà vậy, ta thấy hành vi này xuất phát từ tình yêu đối với chủ. Anh ta xem việc của chủ như là việc của anh và đã cố gắng chu toàn. Cũng vậy, khi lãnh nhận bí tích Rửa tội, chúng ta được Chúa trao ban quản lý ân huệ của Chúa trên cuộc đời chúng ta. Chúa cũng trao ban cho chúng ta những ân huệ đặc biệt kèm theo khi chúng ta nắm giữ một chức vụ phục vụ nào. Chúa còn ban cho chúng ta sức khoẻ, thời giờ, cơ hội, hoàn cảnh để phục vụ và làm sinh lợi cho Chúa. Khi chúng ta chu toàn việc bổn phận với hết khả năng Chúa ban thì chúng ta đang là người quản lý tốt. Tỉnh thức là thể hiện niềm tin Chúa sẽ đến, là biểu lộ lòng yêu mến chờ đợi Chúa, là trung tín với những gì Chúa giao phó và khôn ngoan làm sinh lợi cho sự nghiệp của Chúa. Như vậy, Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy tỉnh thức. Sự tỉnh thức đích thực là chu toàn bổn phận của mình. Với một tinh thần trách nhiệm và với một tinh thần phục vụ quên mình, Người Kitô hữu luôn dấn thân vào mọi ngõ ngách cuộc đời và làm chứng cho Tin Mừng khi sống chu toàn bổn phận của mình, khi sống hết trách nhiệm với tha nhân và trong tinh thần phục vụ quên mình. Có như vậy, mới đáng được Chúa thưởng công. Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã ban cho chúng con ơn đức tin và được làm con cái Chúa, xin cho chúng con biết dùng khả năng và thời giờ Chúa ban để làm cho đức tin được triển nở qua đời sống đạo đức hằng ngày, để khi Chúa trở lại, chúng con xứng đáng được Chúa ân thưởng phúc trường sinh. Amen Hiền Lâm *** CHÚA NHẬT I MÙA VỌNG, NĂM C I. ĐỌC TIN MỪNG Lc 21, “Sẽ có những điềm lạ trên mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Dưới đất, muôn dân sẽ lo lắng hoang mang trước cảnh biển gào sóng thét. Người ta sợ đến hồn xiêu phách lạc, chờ những gì sắp giáng xuống địa cầu, vì các quyền lực trên trời sẽ bị lay chuyển. Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến. Khi những biến cố ấy bắt đầu xảy ra, anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc.” “Vậy anh em phải đề phòng, chớ để lòng mình ra nặng nề vì chè chén say sưa, lo lắng sự đời, kẻo Ngày ấy như một chiếc lưới bất thần chụp xuống đầu anh em, vì Ngày ấy sẽ ập xuống trên mọi dân cư khắp mặt đất. Vậy anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người.” II. SUY NIỆM “ĐỨNG THẲNG VÀ NGẨNG ĐẦU LÊN” Bài Tin Mừng Chúa Nhật I Mùa Vọng hôm nay đề cập đến việc Chúa sẽ đến bất thình lình, mời gọi mọi người chúng ta biết sống tỉnh thức và sẵn sàng, để khi cái chết ập đến, chúng ta sẵn sàng nghênh đón Chúa để đi vào đời sống vĩnh cửu. Trong khi chờ đợi, Chúa muốn mỗi người sống trung tín và trách nhiệm đối với tha nhân. 1. Chúa đết bất ngờ. Nước Thiên Chúa sẽ thành tựu ở một thời điểm mà không ai biết trước được vào ngày Chúa Giêsu sẽ quang lâm. Thiên Chúa quả thực đã đặt để trong lòng con người hạt giống của sự sống vĩnh cửu, hạt giống ấy chỉ có thể nẩy mầm trên thửa đất của hiện tại mà thôi không thể đi vào vĩnh cửu mà không bước qua hiện tại, không thể yêu mến vĩnh cửu mà lại khước từ hiện rồi, Chúa trở lại bất thình lình, hầu con người bày tỏ lòng trung tín qua việc tỉnh thức đợi chờ thời khắc vô cùng quan trọng để được hưởng hạnh phúc hay bị luận phạt đời đời. Vì nếu biết, thì con người sẽ phóng túng, “cứ để mình ra nặng nề vì chè chén say sưa, lo lắng sự đời…” Lc 21,34, chờ sắp đến ngày chết mới lo liệu, và như vậy thì không còn gì là yêu mến và trung thành. Chúa không cho biết lúc nào Người đến, nhưng chắc chắn Người sẽ đến như “một chiếc lưới bất thần chụp xuống biển nhân gian”, nên đòi hỏi mọi người phải tỉnh thức “để có thể đứng vững trước mặt Con Người” Lc 21,36. Không thiếu những người cứ như mình không bao giờ chết, hoặc nghĩ có già mới chết… Rồi cứ sống thoải mái và nghĩ rằng, sắp đến ngày chết thì xưng tội, sẽ ăn năn, sẽ trở về với Chúa… nhưng có ngờ đâu rằng Đứa bé nặn đất chơi bên vệ đường – bất ngờ chết, chàng sinh viên tương lai ngời ngợi chuẩn bị tốt nghiệp – chết, cô dâu trên đường về nhà chồng – xe lật chết, nhưng cụ già 90 tuổi ngày ngày mong chết lại không chết… Tại sao chúng ta nghĩ rằng mai làm việc đó, mà ngay hôm nay làm được mà không làm, rồi có sống đến ngày mai không. Cái chết đến có báo trước cho chúng ta không? Bộ mặt thế gian này sẽ qua đi nhanh như một giấc mộng, sẽ tan biến như làn khói, mọi thứ sẽ trở về cát bụi hư vô. Lúc đó mỗi chúng ta sẽ phải trả lẽ trước mặt Thiên Chúa về những việc làm của mình. Phúc cho ai tỉnh thức, sẵn sàng và nhanh nhạy mới gặp được Chúa và được Chúa ân cần đón vào cuộc sống vĩnh hằng. 2. Biến cố cánh chung. Cũng như trước biến cố xảy ra cho Giêrusalem, dân Do-thái đã bỏ Chúa, giết các chứng nhân, chiến tranh giữa các phe nhóm và với đế quốc Rôma. Thì thời cùng tận, tranh chấp giữa các nước trên địa cầu như là một sự tất yếu của sự phát triển, khẳng định của các đế chế xã hội loài người, những cuộc chạy đua vũ khí huỷ diệt, con người ỷ thế vào công nghệ kỹ thuật khoa học, sự xuống cấp của đạo đức, tội ác lan tràn… và con người chỉ còn tôn thờ vật chất, tôn thờ khoái lạc, hưởng thụ và “giết chết Thiên Chúa”… là những dấu hiệu thế giới đang đi đến chỗ bị huỷ diệt. Nhưng trong mọi biến cố, những ai trung thành với Chúa thì không sợ gì cả, nhưng “đứng thẳng và ngẩng đầu lên” vì chính mình được Chúa cứu độ. Thế gian rồi cũng qua đi, và Nước Chúa mới là vĩnh cửu. Thành Giêrusalem bị xoá sổ thì Dân Mới được thành lập. Thế giới này qua đi thì Nước Trời sẽ xuất hiện. Đó là điều mà sách Khải Huyền nói tới “Rồi tôi thấy trời mới, đất mới và thành Giêrusalem mới đến từ trời, từ nơi Thiên Chúa” x. Kh 21,1-2. Như vậy, tỉnh thức là thể hiện niềm tin Chúa sẽ đến, là biểu lộ lòng yêu mến chờ đợi Chúa, là trung tín với những gì Chúa giao phó và khôn ngoan làm sinh lợi cho sự nghiệp của Chúa. Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy tỉnh thức. Sự tỉnh thức đích thực là chu toàn bổn phận của mình. Với một tinh thần trách nhiệm và với một tinh thần phục vụ quên mình, Người Kitô hữu luôn dấn thân vào mọi ngõ ngách cuộc đời và làm chứng cho Tin Mừng khi sống chu toàn bổn phận của mình, khi sống hết trách nhiệm với tha nhân và trong tinh thần phục vụ quên mình. Có như vậy, mới đáng được Chúa thưởng công. Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết sống trong sự ngay thẳng, tỉnh thức đợi chờ, để rồi dù biến cố gì xảy đến, chúng con vẫn đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì chúng con tin là Chúa sẽ đón chúng con vào Trời Mới, Đất Mới và Giêrusalem Mới trên trời. Amen Hiền Lâm Bài đọc ngày hôm nay Chúa Nhật Tuần V - Mùa Chay Bài đọc 1 Is 43,16-21 Này Ta sắp làm một việc mới, Ta sẽ cho dân Ta được giải thoát. Bài trích sách ngôn sứ I-sai-a. 16Đây là lời Đức Chúa, Đấng đã vạch một con đường giữa đại dương, một lối đi giữa sóng nước oai hùng, 17Đấng đã cho xuất trận nào chiến xa chiến mã, nào tướng mạnh binh hùng - tất cả đã nằm xuống, và không còn trỗi dậy, đã bị dập đi, tắt ngấm như tim đèn. 18Người phán như sau “Các ngươi đừng nhớ lại những chuyện ngày xưa, chớ quan tâm về những việc thuở trước. 19Này Ta sắp làm một việc mới, việc đó manh nha rồi, các ngươi không nhận thấy hay sao ? Phải, Ta sẽ mở một con đường giữa sa mạc, khơi những dòng sông tại vùng đất khô cằn. 20Loài dã thú, chó rừng và đà điểu, đều sẽ tôn vinh Ta ; vì Ta cho nước chảy ngay giữa sa mạc, khơi những dòng sông tại vùng đất khô cằn, cho dân Ta tuyển chọn được giải khát. 21Ta đã gầy dựng cho Ta dân này, chúng sẽ lên tiếng ngợi khen Ta.” Đáp ca Tv 125, Đ. Chúa làm cho ta, ôi vĩ đại ! Ta thấy mình chan chứa một niềm vui. 1Khi Chúa dẫn tù nhân Xi-on trở về, ta tưởng mình như giữa giấc mơ. 2abVang vang ngoài miệng câu cười nói, rộn rã trên môi khúc nhạc mừng. Chúa làm cho ta, ôi vĩ đại ! Ta thấy mình chan chứa một niềm vui. 2cdBấy giờ trong dân ngoại, người ta bàn tán “Việc Chúa làm cho họ, vĩ đại thay !” 3Việc Chúa làm cho ta, ôi vĩ đại ! Ta thấy mình chan chứa một niềm vui. Chúa làm cho ta, ôi vĩ đại ! Ta thấy mình chan chứa một niềm vui. 4Lạy Chúa, xin dẫn tù nhân chúng con về, như mưa dẫn nước về suối cạn miền Nam. 5Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống, mùa gặt mai sau khấp khởi mừng. Chúa làm cho ta, ôi vĩ đại ! Ta thấy mình chan chứa một niềm vui. 6Họ ra đi, đi mà nức nở, mang hạt giống vãi gieo ; lúc trở về, về reo hớn hở, vai nặng gánh lúa vàng. Chúa làm cho ta, ôi vĩ đại ! Ta thấy mình chan chứa một niềm vui. Bài đọc 2 Pl 3,8-14 Vì Đức Ki-tô tôi đành mất hết, để được nên đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người. Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Phi-líp-phê. 8 Thưa anh em, tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời, là được biết Đức Ki-tô Giê-su, Chúa của tôi. Vì Người, tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như rác, để được Đức Ki-tô 9 và được kết hợp với Người. Được như vậy, không phải nhờ sự công chính của tôi, sự công chính do luật Mô-sê đem lại, nhưng nhờ sự công chính do lòng tin vào Đức Ki-tô, tức là sự công chính do Thiên Chúa ban, dựa trên lòng tin. 10 Vấn đề là được biết chính Đức Ki-tô, nhất là biết Người quyền năng thế nào nhờ đã phục sinh, cùng được thông phần những đau khổ của Người, nhờ nên đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người, 11 với hy vọng có ngày cũng được sống lại từ trong cõi chết. 12 Nói thế, không phải là tôi đã đoạt giải, hay đã nên hoàn thiện đâu ; nhưng tôi đang cố gắng chạy tới, mong chiếm đoạt, bởi lẽ chính tôi đã được Đức Ki-tô Giê-su chiếm đoạt. 13 Thưa anh em, tôi không nghĩ mình đã chiếm được rồi. Tôi chỉ chú ý đến một điều, là quên đi chặng đường đã qua, để lao mình về phía trước. 14 Tôi chạy thẳng tới đích, để chiếm được phần thưởng từ trời cao Thiên Chúa dành cho kẻ được Người kêu gọi trong Đức Ki-tô Giê-su. Tung hô Tin Mừng Ge 2,12-13 Đức Chúa phán Ngay lúc này, các ngươi hãy hết lòng trở về với Ta, bởi vì Ta từ bi nhân hậu. Tin Mừng ngày hôm nay ✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an Ga 8,1-11 1 Khi ấy, Đức Giê-su đến núi Ô-liu. 2 Vừa tảng sáng, Người trở lại Đền Thờ. Toàn dân đến với Người. Người ngồi xuống giảng dạy họ. 3 Lúc đó, các kinh sư và người Pha-ri-sêu dẫn đến trước mặt Đức Giê-su một phụ nữ bị bắt gặp đang ngoại tình. Họ để chị ta đứng ở giữa, 4 rồi nói với Người “Thưa Thầy, người đàn bà này bị bắt quả tang đang ngoại tình. 5 Trong sách Luật, ông Mô-sê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao ?” 6 Họ nói thế nhằm thử Người, để có bằng cớ tố cáo Người. Nhưng Đức Giê-su cúi xuống lấy ngón tay viết trên đất. 7 Vì họ cứ hỏi mãi, nên Người ngẩng lên và bảo họ “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi.” 8 Rồi Người lại cúi xuống viết trên đất. 9 Nghe vậy, họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi. Chỉ còn lại một mình Đức Giê-su, và người phụ nữ thì đứng ở giữa. 10 Người ngẩng lên và nói “Này chị, họ đâu cả rồi ? Không ai lên án chị sao ?” 11 Người đàn bà đáp “Thưa ông, không có ai cả.” Đức Giê-su nói “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu ! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa !” Tĩnh Tâm Với Tin Mừng Theo Thánh Gio-an Tác giả Nguyễn Công Đoan ngày 17 tháng 4 năm 2018 Nguồn Đọc Tin Mừng theo Thánh Gio-an ta thường thấy thích thú, đồng thời cũng cảm thấy “chóng mặt”. Dựa trên hình ảnh bốn sinh vật trong thị kiến về xa giá của Thiên Chúa trong sách Ê-dê-ki-en, truyền thống đã dùng làm hình ảnh tượng trưng của bốn sách Tin Mừng “4 Tôi nhìn, thì kìa một cơn gió bão từ phương Bắc thổi đến ; có đám mây lớn, có lửa loé ra và ánh sáng chiếu toả chung quanh ; ở chính giữa như có một kim loại lấp lánh, ở chính giữa lửa. 5 Ở chính giữa, có cái gìtựa như bốn sinh vật. Đây là dáng vẻ của chúng chúng trông giống như người ta. 6 Mỗi sinh vật có bốn mặt và bốn cánh. 7 Còn chân của chúng thì thẳng ; bàn chân tựa bàn chân con bê, lấp lánh như đồng sáng loáng. 8 Bên dưới cánh, có những bàn tay giống tay người quay về bốn phía ; mặt và cánh của bốn sinh vật cũng đều như thế. 9 Cánh của chúng giáp vào nhau. Lúc đi, chúng không quay mặt vào nhau, nhưng cứ thẳng phía trước mặt mà tiến. 10 Còn bộ mặt của chúng, thì chúng đều có mặt người, cả bốn đều có mặt sư tử bên phải, cả bốn đều có mặt bò rừng bên trái, cả bốn đều có mặt phượng hoàng. 11 Đó là mặt của chúng. Còn cánh của chúng thì giương lên cao. Mỗi sinh vật có hai cánh giáp vào nhau và hai cánh khác phủ thân mình. 12 Chúng cứ thẳng phía trước mặt mà đi, thần khí đẩy phía nào, chúng đi phía đó ; lúc đi chúng không quay mặt vào nhau. 13 Ở giữa các sinh vật ấy, có cái gì giống như than hồng rực lửa, giống như ngọn đuốc, đang di chuyển giữa các sinh vật. Lửa phát ra ánh sáng và từ lửa phóng ra những tia chớp. 14 Các sinh vật đi đi lại lại nhanh như chớp” Ed 1,4-14. Bốn sinh vật làm thành cỗ xe xa giá của Thiên Chúa mỗi sinh vật đều mang bốn khuôn mặt, quả là một hình ảnh đẹp để diễn tả bốn sách Tin Mừng. Bốn cuốn sách khác nhau trình bày cùng một Tin Mừng, nhưng mang bốn khuôn mặt khác nhau. Bốn sinh vật làm thành xa giá của Thiên Chúa, bốn sách Tin Mừng là “xa giá” của Đức Giê-su Ki-tô để di chuyển đến tận cùng trái đất và mọi loài thụ tạo. “Mặt người” tượng trưng cho Tin Mừng Mát-thêu, vì sách này bắt đầu với gia phả, kể nguồn gốc Chúa Giê-su trong dòng dõi loài người, “Mặt sư tử” tượng trưng cho Tin Mừng Mác-cô, vì sách này mở đầu với tiếng hô trong hoang địa, “Mặt bò rừng” tượng trưng cho Tin Mừng Lu-ca, vì sách này mở đầu với việc tư tế Da-ca-ri-a phục vụ trong Đền Thờ, “Mặt phượng hoàng” tượng trưng cho Tin Mừng Gio-an, vì sách này mở đầu với nguồn gốc Chúa Giê-su từ cung lòng Thiên Chúa. Phương hoàng vẫn là loài chim bay cao tận đỉnh trời. Chúng ta chóng mặt vừa vì lối văn của Gio-an, vừa vì nội dung luôn nối kết đất với trời nhằm giúp chúng ta “tin rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô Con Thiên Chúa, và để nhờ tin mà được sự sống đời đời.” Ga 20,31 Thêm vào đó, chúng ta hay bị “nhồi sọ” rằng sách Tin Mừng Gio-an cao siêu, khó hiểu. Cao siêu thì chắc chắn rồi, nhưng khó hiểu hay không là tùy ta có tìm được hay không chìa khóa để vào lâu đài và nút bật đèn cho có ánh sáng dẫn đường đưa tới kho tàng trong lâu đài là Đức Giê-su Ki-tô Con Thiên Chúa. * * * Lời Tựa chính là Chìa khóa được cắm sẵn ở cửa. Nút bật đèn soi dưới chân cũng được chỉ dẫn ở ngay cửa, đó là toàn bộ Cựu Ước từ sách Sáng Thế tới các sách Khôn ngoan. 1 Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Lúc khởi đầu, Người vẫn hướng về Thiên Chúa. Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành Ga 1, 1-3 … Từ nguồn sung mãn của Người, tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác. Quả thế, Lề Luật đã được Thiên Chúa ban qua ông Mô-sê, còn ân sủng và sự thật, thì nhờ Đức Giê-su Ki-tô mà có. 18 Thiên Chúa, chưa bao giờ có ai thấy cả ; nhưng Con Một vốn là Thiên Chúa và là Đấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Người đã kể cho chúng ta biết.” Còn nút bật đèn soi từ trên trần xuống, lại đặt ở cuối hành lang, khi Chúa phục sinh đến và đứng giữa nhóm Mười Một “19 Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do-thái. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói "Bình an cho anh em !" 20 Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. 21 Người lại nói với các ông "Bình an cho anh em ! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em. Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha anh em cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ” Ga 20,19-21. Trong bữa ăn cuối cùng với họ, Chúa Giê-su đã nói rõ “16 Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. 17 Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em” Ga 14,16-17. “12 Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em. Nhưng bây giờ, anh em không có sức chịu nổi. 13 Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn. Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại, và loan báo cho anh em biết những điều sẽ xảy sẽ tôn vinh Thầy, vì Người sẽ lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh Mọi sự Chúa Cha có đều là của Thầy. Vì thế, Thầy đã nói Người lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em. Ga 16,12-15. Thần Khí mà Chúa Giê-su xin Cha gởi đến vừa là Thần Khí của sự thật, vừa là ơn tha tội. Các lời hứa Giao Ước Mới trong sách I-sai-a 54,1, Giê-rê-mi-a 31,33-34, Ê-dê-ki-en đều bao gồm ơn tha tội và ơn “biết” Thiên Chúa, tức là hai mặt của tương quan mới với Thiên Chúa trong Giao Ước mới, nhưGiê-rê-mi-a loan báo “33 Đây là giao ước Ta sẽ lập với nhà Ít-ra-en sau những ngày đó - sấm ngôn của ĐỨC CHÚA. Ta sẽ ghi vào lòng dạ chúng, sẽ khắc vào tâm khảm chúng Lề Luật của Ta. Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng, còn chúng sẽ là dân của Ta. 34 Chúng sẽ không còn phải dạy bảo nhau, kẻ này nói với người kia "Hãy học cho biết ĐỨC CHÚA", vì hết thảy chúng, từ người nhỏ đến người lớn, sẽ biết Ta - sấm ngôn của ĐỨC sẽ tha thứ tội ác cho chúng và không còn nhớ đến lỗi lầm của chúng nữa. Ê-dê-ki-en cho biết cả ơn tha tội và ơn biết Thiên Chúa đều do tác động của Thần Khí của Thiên Chúa “25 Rồi Ta sẽ rảy nước thanh sạch trên các ngươi và các ngươi sẽ được thanh sạch, các ngươi sẽ được sạch mọi ô uế và mọi tà thần. 26 Ta sẽ ban tặng các ngươi một quả tim mới, sẽ đặt thần khí mới vào lòng các ngươi. Ta sẽ bỏ đi quả tim bằng đá khỏi thân mình các ngươi và sẽ ban tặng các ngươi một quả tim bằng thịt. 27 Chính thần trí của Ta, Ta sẽ đặt vào lòng các ngươi, Ta sẽ làm cho các ngươi đi theo thánh chỉ, tuân giữ các phán quyết của Ta và đem ra thi hành. 28 Các ngươi sẽ cư ngụ trong đất Ta đã ban cho tổ tiên các ngươi. Các ngươi sẽ là dân của Ta. Còn Ta, Ta sẽ là Thiên Chúa các ngươi. 29 Ta sẽ cứu các ngươi khỏi mọi ô uế” Ed 36,25-28. Chúa Giê-su đã thiết lập Giao Ước Mới bằng Máu của Người, “Con Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian.” Ga 1,29. Từ trên thập giá, Người đã trao hơi thở [Thần Khí], như khi tạo dựng Thiên Chúa đã thổi hơi vào lỗ mũi con người x. St 2,7. Khi đã phục sinh Chúa đến thổi hơi vào các môn đệ và nói “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” Ga 20,22. Các môn đệ đã sống với Chúa Giê-su cũng chỉ hiểu được Mầu nhiệm Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, là Con Thiên Chúa nhờ luồng sáng của Lời Chúa trong Cựu Ước và Thánh Thần. Các sách Tin Mừng được viết ra cho chúng ta là do Thánh Thần linh hứng và đều quy chiếu vào Cựu Ước để giải nghĩa nhiệm mầu cho chúng ta khi kể cho chúng ta nghe lời Chúa Giê-su đã nói và việc Chúa đã làm. Các khoa học liên quan tới Thánh Kinh lịch sử, khảo cổ, ngôn ngữ, các phương pháp phân tích… giúp ta hiểu nhiều điều bằng trí tuệ. Nhưng Thánh Kinh là Lời Chúa do Thánh Thần linh hứng cho các tác giả viết ra, để đưa chúng ta vào mầu nhiệm của Thiên Chúa, vào kế hoạch cứu độ, ý định bày tỏ lòng yêu thương của Thiên Chúa, nên các khoa học nghiên cứu chỉ giúp chúng ta thỏa mãn trí tuệ, chứ không đưa được chúng ta vào trong Thiên Chúa, trong tình yêu của Thiên Chúa. Người ta có thể tìm được một bức thư tình của một nhân vật nổi tiếng và dùng mọi phương pháp phân tích để giải nghĩa, kể cả xác minh xem tác giả có đúng là người mà người ta nghĩ không, nhưng chẳng ai có thể vào được trong những tâm tình mà bức thư muốn truyền tải, ngoài hai người trong cuộc của mối tình ấy. Kinh Thánh là bức thư tình xuyên thế kỷ của Thiên Chúa hằng sống, do Thánh Thần của Thiên Chúa - là chính Tình Yêu nối kết Cha và Con trong mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, và nối kết người đón nhận Tình Yêu của Thiên Chúa vào trong mầu nhiệm của Thiên Chúa Tình Yêu – dùng con người để viết, và đầu bên kia, người nhận thư, bất cứ ai đón nhận bức thư ấy là bức thư viết cho đích danh mình, và để cho Tình Yêu ấy cuốn mình vào trong lòng Ba Ngôi Thiên Chúa, vì chỉ có “Thần Khí thấu suốt mọi sự, ngay cả những gì sâu thẳm nơi Thiên Chúa” ví như nơi con người, “ai trong loài người biết được những gì nơi con người, nếu không phải là thần trí của con người trong con người” x. 1 Cr 2,10-11. Vậy thì chỉ có sự gặp gỡ giữa Thần Khí Thiên Chúa với thần trí con người mới đưa con người vào trong mầu nhiệm của Thiên Chúa Tình Yêu qua bức thư tình của Thiên Chúa. Một chuyên viên Thánh Kinh có thể giảng dạy, viết hàng trăm cuốn sách về Kinh Thánh, rất bác học uyên thâm, giống như bất cứ nhà bác học nào khác trong ngành chuyên môn của họ, nhưng chưa chắc đã đón nhận đó là bức thư tình của Thiên Chúa gởi cho đích danh mình. Trái lại một người quê mùa chất phác, chỉ nhớ được vài câu khi nghe đọc trong thánh lễ, nhưng lại sống như là lời của Trái Tim Thiên Chúa nói với trái tim mình, ban sức sống để soi sáng và ban sức sống cho mình suốt đời. Thời các tông đồ đã có bao nhiêu nhà thông luật ngày đêm nghiên cứu Kinh Thánh mà Chúa Giê-su nhắc đến “Các ông nghiên cứu Kinh Thánh, vì nghĩ rằng trong đó các ông tìm được sự sống đời đời. Mà Kinh Thánh làm chứng về tôi. Các ông không muốn đến cùng tôi để tìm được sự sống” Ga 5,39-40. Các môn đệ của Chúa cũng đã từng học với các chuyên gia ấy, rồi đã được ở với Chúa mấy năm trời mà vẫn chưa hiểu, cho tới khi Chúa Phục Sinh “giải huyệt ngu” cho các ông “Người mở trí cho các ông hiểu Kinh Thánh” Lc 24,45. Nội lực để “giải được huyệt ngu” chính là Thánh Thần mà Chúa Phục Sinh đem cho các ông và cho chúng ta hôm nay Lc 24,49. Tôi nhớ có một bài của một nhà thơ Việt Nam thế kỷ 20, tựa đề “lời mẹ dặn” “Yêu ai cứ bảo là yêu, ghét ai cứ bảo là ghét - dù ai cầm dao dọa giết, cũng không nói ghét thành yêu - dù ai ngon ngọt nuông chiều, cũng không nói yêu thành ghét”. “Lời mẹ dặn” ấy cùng với tình yêu của mẹ sẽ soi sáng cả cuộc đời của người con, sống trung thực, dù phải trá giá bằng chính mạng sống mình. Trong lịch sử Việt Nam, chúng ta có một nhân vật rất nổi tiếng đã thay đổi dòng lịch sử vì lòng hiếu thảo, ông quyết theo cha, sống chết với cha, lúc ấy bị quân Tàu bắt đem về bên kia biên giới. Nhưng tới biên giới thì cha ông bảo ông quay về, vì nợ nước nặng hơn tình nhà. Ông vâng lời cha quay về và đã giúp vua Lê Lợi xoay lại dòng lịch sử, giải phóng dân ta khỏi ách đô hộ của phương Bắc. Một lời người cha nói với người con đủ thay đổi không chỉ cuộc sống của một người con, mà thay đổi vận mạng, lịch sử của cả một dân tộc. Một lời thôi, vâng chỉ một lời của một người cha được người con đón nhận đã giúp thay đổi vận mạng cả một dân tộc, từ thân nô lệ phương Bắc lại hiên ngang làm Con Rồng Cháu Tiên, ngày ngày đứng trên mảnh đất bé nhỏ hình chữ S bên bờ Thái Bình Dương, đón nắng mặt trời lên thẳng từ chân trời, không bị bóng đế quốc nào che khuất ! Việt Nam quê hương tôi ! Việt Nam đất nước tôi ! Việt Nam hai ngàn năm lịch sử chống ngoại xâm, một Mẹ Âu Cơ tay bồng trăm đứa con đi đánh giặc, lần lượt xua tan năm đế quốc sừng sỏ nhất của mỗi thời đại. Một lời người cha của Nguyễn Trãi nói với ông, đã thành lời của Mẹ Âu Cơ nói với cả trăm đứa con. Chỉ một lời thôi, Mẹ Âu Cơ ơi ! Mẹ thật tuyệt vời ! Đế quốc nào nữa dám lăm le ? Coi chừng Mẹ tôi sẵn sàng ra tay nữa đấy nhé ! Thế còn Lời Chúa Toàn Năng, Đấng phán một lời làm nên trời đất nói với tôi, có thay đổi được cuộc đời tôi và giúp tôi góp phần thay đổi thế giới đầy tội ác, phi nhân phi nghĩa ngày nay không ? Tùy tôi đấy. Chẳng lẽ tôi có thể làm mất mặt Thiên Chúa toàn năng mà tôi tuyên xưng “Tôi tin kính Đức Chúa Trời là Cha phép tắc vô cùng dựng nên trời đất”. Chúa phán một lời dựng nên trời đất mà không biến đổi được một con người bé nhỏ là tôi… Tôi to gan thật ! Nhưng Chúa đã lỡ chấp nhận để lời toàn năng của Chúa lệ thuộc vào tôi, nên Chúa đành chịu đấy ! Tôi có chịu nghĩ lại không ? Sách Tin Mừng theo thánh Gio-an đưa chúng ta vào mầu nhiệm Chúa Giê-su Ki-tô bằng con đường chiêm niệm rất ngọt ngào. Có thể ví như khi đứng trước một lâu đài, chúng ta thấy có vẻ kỳ bí và sợ bước vào, nhưng nếu có một người sống trong lâu đài ấy, biết mọi ngóc ngách, cầm tay dắt chúng ta vào, vừa dẫn đi vừa giải thích cho chúng ta thì chúng ta hết sợ. Cứ để người ấy dẫn đi và uống lấy những lời giải thích, ta sẽ ngất ngây chiêm ngắm những kỳ diệu trong lâu đài và không muốn ra nữa, như hai người môn đệ đầu tiên được Chúa mời “đến mà xem, họ đã đến xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy”… Ga 1,39. Rồi ở luôn ! Bây giờ chúng ta hãy xin Chúa cho cùng đi theo với hai người môn đệ đầu tiên này, “đến xem nơi Chúa ở, ở lại với Chúa ngày hôm ấy”… rồi nấn ná xin ơn ở lại luôn. 1. Lời Tựa Mười tám câu đầu sách Tin Mừng này được coi như lời tựa. Lời tựa một cuốn sách bao giờ cũng nhằm giới thiệu tổng quát chủ đề, mục đích, phương pháp nghiên cứu và cách trình bày. Lời tựa của sách Tin Mừng thứ tư khởi từ “thân thế và sự nghiệp” của “Ngôi Lời”. Người là “Lời” hiện hữu từ ban đầu ở nơi Thiên Chúa. “Lời” của loài người thì chỉ diễn tả ra, còn Lời của Thiên Chúa thì vừa diễn tả chính Thiên Chúa vừa là Thiên Chúa. Thư Cô-lô-xê dùng kiểu nói tương tự, diễn tả Người là “hình ảnh của Thiên Chúa vô hình”. Hình ảnh của Thiên Chúa là thực thể cùng hiện hữu và là Thiên Chúa, không tách rời khỏi Thiên Chúa, ở nơi Thiên Chúa, luôn hướng về Thiên Chúa. “Hình ảnh” của chúng ta, lời chúng ta diễn tả chính mình, thay đổi tùy lúc, không nhất thiết trung thực ; vì thế nhiều khi chúng ta phải hỏi “anh/chị nghĩ anh/chị là ai thế ?” khi thấy một người không biết mình là ai, tưởng mình là ông to bà lớn và cư xử như ông to bà lớn, tới mức bệnh tâm thần, tưởng mình là vua, thậm chí là một trong Ba Ngôi Thiên Chúa nữa. Lời, hình ảnh của chúng ta diễn tả cái chúng ta mơ ước, mong muốn chứ không phải thật. Đánh phấn tô son hàng giờ trước gương là để tạo khuôn mặt mình muốn. Có chuyện cô gái trông thật xinh đẹp vẫy xích lô từ Chợ Saigon đi xuống Chợ Lớn giữa mùa hè, mồ hôi ra làm trôi son phấn ... Khi tới nơi quay mặt lại trả tiền thì bác đạp xích lô hét lên, ù té chạy mất, vì tưởng gặp ma giữa ban ngày ! Cái mơ ước đầu tiên quỷ đã bày cho con người là mơ ước nên bằng, nên như Thiên Chúa, và đi đường tắt để đạt tới đích cưỡng lời Thiên Chúa, để tỏ ra mình bằng Thiên Chúa. Kết quả là nên bằng với thằng “cha sự dối trá”. Lời Thiên Chúa làm nên mọi sự. “Thiên Chúa phán Hãy có ánh sáng’, liền có ánh sáng.” Với mười lần “phán”, Thiên Chúa đã làm nên cả trời đất và mọi loài. Chỉ có con người được Thiên Chúa tạo thành “giống hình ảnh” của Thiên Chúa [chứ không phải LÀ hình ảnh của Thiên Chúa] mới có thể cưỡng lại Lời Thiên Chúa. Thiên Chúa sai Mô-sê đem MƯỜI LỜI cho vua Pha-ra-ô, mười lần Pha-ra-ô đều cưỡng lại, nên trở thành mười tai họa cho vua và dân. Ở núi Xi-nai Thiên Chúa tuyên bố nhận đám dân hỗn tạp vừa được Người giải thoát khỏi ách nô lệ, làm dân của Thiên Chúa và ban cho họ MƯỜI LỜI để sống làm Dân của Thiên Chúa. Tương lai của họ tùy thuộc họ có làm theo những lời ấy hay không nếu họ làm theo thì họ sẽ được vào Đất của Thiên Chúa, cưỡng lại thì họ không phải là Dân của Thiên Chúa nữa, nên sẽ không được vào. Khi vào rồi họ vẫn phải tiếp tục làm theo Mười Lời đó để “làm dân của Thiên Chúa”, nếu không thì sẽ bị đuổi ra, sẽ phải lưu đầy xa Đất của Thiên Chúa. Con người được giao cho hai nhiệm vụ quản lý những gì Thiên Chúa đã tạo thành và thi hành,làm theo Mười Lời Thiên Chúa đã ban để sống làm dân của Thiên Chúa và được hưởng những gì Thiên Chúa hứa. Lời con người nói thì chỉ bay theo gió, Lời Thiên Chúa thì làm nên mọi sự. Vinh dự của con người là nếu làm theo Lời Thiên Chúa thì cũng làm được điều Thiên Chúa giao cho mình. Thiên Chúa đã hạ mình xuống và nâng con người lên bằng cách đó lời Thiên Chúa lệ thuộc vào con người, con người được dự phần vào quyền năng của Thiên Chúa bằng cách làm theo Lời Thiên Chúa. Ngày nay mọi thứ máy móc, dụng cụ đều có bản chỉ dẫn kèm theo. Muốn sử dụng được phải làm theo những chỉ dẫn, vì người chế tạo mới biết và cho biết cách sử dụng. Người ta sẵn sàng tìm người giúp hiểu đúng lời chỉ dẫn, và tuân theo… rất tỉ mỉ. Thế nhưng người ta lại không muốn làm theo lời chỉ dẫn của Thiên Chúa, nhưng muốn làm theo ý mình. “Thiên Chúa biết ta được Người nhồi nắn bằng gì” Tv 103/102,14 và muốn chúng ta nên như thế nào, mới có thể chỉ dẫn cho chúng ta biết làm thế nào để trở nên chính mình, để làm dân, làm con của Thiên Chúa. Cuộc xung đột giữa ánh sáng và bóng tối ngay từ lúc tạo thành trời đất thì Thiên Chúa đã giải quyết bằng Lời của Ngài, tách ánh sáng ra khỏi bóng tối, ngày và đêm phân biệt rõ ràng. Nhưng từ khi tạo dựng nên con người thì Thiên Chúa gặp sự từ chối, chống đối Thiên Chúa bị từ chối. Thiên Chúa muốn ban cho con người sự sống, thế mà cũng bị từ chối. Từ chối sự sống thì chỉ còn sự chết, cũng như từ chối ánh sáng thì chỉ còn bóng tối. Nhưng Thiên Chúa không ép buộc, cũng không chịu thua, vì Thiên Chúa trung thành với chính mình, không thể rút lại lời hứa ban sự sống. Thua keo này Thiên Chúa bày keo khác. Gởi Lời đến bằng công trình tạo dựng thì con người “mù” hoặc lóa mắt, không nhận ra, tưởng đó là thần và thờ mặt trời, mặt trăng, sao trời ; gởi Lời đến bằng lời loài người qua Môsê và các ngôn sứ, thì con người “điếc” không nghe. Kế sách cuối cùng của Thiên Chúa là gởi Lời đến làm người bằng xương bằng thịt “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta”. Kết quả ra sao ? Có hơn gì không ? Bên cạnh đó, Thiên Chúa còn gởi một người đến làm chứng cho ánh sáng, cho sự thật, để mọi người nhờ ông mà tin. Kết quả ra sao ? Có hiệu lực không ? Con người vẫn có thể sáng mắt thính tai, hay mù và điếc “có chọn lựa” ! Thiên Chúa chẳng cưỡng ép được con người, vì đã “lỡ” làm nên con người có tự do chọn lựa, có thể đối diện với Thiên Chúa, có thể đáp lời hay từ chối Thiên Chúa. Con Thiên Chúa đến làm người, có họ có tên, có nơi sinh, nơi sống ở giữa chúng ta, để nói với chúng ta bằng môi miệng của một con người, bằng tiếng nói và ngôn ngữ của loài người. Xưa Thiên Chúa ban Mười Lời để người ta sống làm dân của Thiên Chúa và nhờ thế được ở trên đất của Thiên Chúa. Đó mới là bài tập ; nay mới là quyết liệt, định đoạt số phận đời đời Thiên Chúa gởi nguyên khối cả Lời của Người, cốt để cho chúng ta được trở nên con Thiên Chúa giống như Người và được sống đời đời với Người. Nhận hay không, nghĩa là tin hay không. Nhận nghĩa là tin rằng Đức Giê-su là Con Thiên Chúa, thì được quyền trở nên Con Thiên Chúa, được biết Thiên Chúa một cách thiết thân như con biết cha, vì Người là Con Một từ trong lòng Cha đến để kể cho chúng ta. Tất cả vũ trụ nói với chúng ta về Thiên Chúa, “kể cho chúng ta vinh quang của Thiên Chúa” bằng cách phản ánh vinh quang ấy qua vẻ đẹp kỳ diệu. Thiên Chúa sai Mô-sê và các ngôn sứ đến nói lời của Thiên Chúa bằng lời loài người, nhưng chưa bao giờ, và chưa có ai đươc thấy Thiên Chúa. Ông Mô-sê xin được thấy mặt Thiên Chúa, thì Thiên Chúa trả lời không được ! Thấy là chết liền ! x. Xh 33,18-23. Ở núi Xi-nai, cả toàn dân của Thiên Chúa, khi nghe tiếng của Thiên Chúa thì cũng run sợ, và yêu cầu ông Mô-sê “Xin chính ông nói với chúng tôi thì chúng tôi mới dám nghe ; nhưng xin Thiên Chúa đừng nói với chúng tôi, kẻo chúng tôi chết mất !” x. Xh 20,19. “Ngôi lời đã trở thành người phàm và cư ngụ giữa chúng ta”, đây là nỗ lực cuối cùng của Thiên Chúa để ban ơn cho loài người, như lời mở đầu thư Híp-ri diễn tả “1 Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ ; 2 nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử. Thiên Chúa đã nhờ Người mà dựng nên vũ trụ, đã đặt Người làm Đấng thừa hưởng muôn vật muôn loài. 3 Người là phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa. Người là Đấng dùng lời quyền năng của mình mà duy trì vạn vật. Sau khi đã tẩy trừ tội lỗi, Người lên ngự bên hữu Đấng Cao Cả trên trời. 4 Danh hiệu Người được thừa hưởng, cao cả hơn danh hiệu các thiên thần bao nhiêu, thì Người lại trổi hơn họ bấy nhiêu.” Quả thật, “từ nguồn sung mãn của Người, tất cả chúng ta lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác” Ga 1,16 tạo dựng là ơn đầu tiên, Lề Luật là ơn ban của Thiên Chúa để diễn tả tình yêu của Thiên Chúa, nay trong Đức Ki-tô Giê-su Thiên Chúa đã ban trọn khối tình yêu và thành tín của người, thành tín thực hiện mọi lời đã hứa từ xưa qua các giai đoạn, và bây giờ thì Thiên Chúa đã cho trọn khối, vì đã ban chính Con Một của Người và ban chính mình Người cùng với Con Một, vì Con Một vốn ở trong lòng Thiên Chúa, không tách rời được. “Thiên Chúa đã yêu mến thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải diệt vong, nhưng có sự sống đời đời.” Ga 3,16. “Từ nguồn sung mãn của Người, tất cả chúng ta lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác” Tạo dựng “nhờ Người mà muôn vật được tạo thành.” Lề Luật “được ban qua Mô-sê”, là công trình của Lời ; đón nhận và thi hành thì được làm Dân của Thiên Chúa, được vào và sống trên đất của Thiên Chúa. Ân sủng và sự thật thì không phải là công trình của Người, nhưng là chính Người, Con Một của Thiên Chúa. Lời được Cha sai đến, đến bằng xương bằng thịt, để nhờ Người, Cha tự ban chính mình cho loài người chúng ta, vì tin vào Người thì được trở nên anh em của Người, vì được trở nên con Thiên Chúa “Cha của Thầy cũng là Cha của anh em” Ga 20,17. Ân sủng và sự thật ở đây tương ứng với kiểu nói quen thuộc trong Cựu Ước tiếng Híp-ri “Khe-sét và Emet” ; Khe-sét nghĩa là Tình Yêu “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi…” và Emet nghĩa là Sự Thật, tức là sự thành tín của Thiên Chúa, Thiên Chúa trung thành giữ lời đã hứa với Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp cho đất và một dòng dõi đông như sao trời cát biển ; sau này có thêm lời hứa cho Đa-vít nữa cho dòng dõi Đa-vít làm vua muôn đời. Nhờ Chúa Giê-su Ki-tô, với Người và trong Người, mọi lời hứa đã thành sự thật. Ông Mô-sê chán nản, mệt mỏi xin được chết, cũng thưa “Ấy là nếu con được ơn nghĩa Khe-sét trước mắt Ngài” Ds 11,15 ; khi năn nỉ Thiên Chúa cùng đi lên với dân, ông cũng nói ”Nếu không, làm sao người ta biết rằng con và dân Ngài được ơn nghĩa khe-sét trước mắt Ngài”, nghĩa là con và dân của Ngài được Ngài thương Xh 33,16. Sau này khi sứ thần nói với Đức Mẹ “Bà đã được nghĩa trước mặt Thiên Chúa” Lc 1,30, nghĩa là Bà được Thiên Chúa thương, chính vì thế “Bà đầy ơn phúc” Lc 1,28, bà là một khối ơn phúc, vì người Con bà sẽ sinh ra là trọn khối ân tình của Thiên Chúa cho loài người. PHƯƠNG PHÁP ĐỌC sự liên hệ mật thiết giữa Lời đã ban qua Mô-sê và các ngôn sứ và Lời do chính Lời hằng hữu đến làm người nói với chúng ta, mở cho chúng ta thấy phải đọc sách Tin Mừng này như thế nào. Trước hết, đây là một cuốn sách nên phải đọc trong mạch văn của cuốn sách, đừng lẫn lộn với ba sách Tin Mừng kia, kẻo thành ra “râu ông nọ cắm cằm bà kia” thì sẽ rối mù. Thứ hai là đừng tách ra khỏi mạch văn của toàn thể Sách Thánh từ Lời đã đến qua Mô-sê và các ngôn sứ tới Lời đã làm người và cư ngụ giữa chúng ta, từ sách Sáng Thế cho tới sách Khải Huyền của Tân Ước đều do MỘT LỜI, “nhiều thể nhiều cách”, qua nhiều giai đoạn, phối hợp với nhau để đưa ta vào kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa, kế hoạch được vén mở từng bước, bước trước rước bước sau, bước sau tiếp bước trước, giải thích lẫn nhau cách hài hòa, như một bản trường ca của Tình Yêu Thiên Chúa, diễn tả “Thiên Chúa là Tình Yêu”. Tác giả dẫn chúng ta vào khúc tuyệt đỉnh của bản trường ca ấy, tựa đề là “Ân Sủng và Sự Thật”. Phải mở lòng, mở trí, mở tai, mở mắt mà cảm nếm từng nốt nhạc vang lên đúng trường độ và cả những dấu lặng, cảm nếm sự vang vọng giữa khúc này với khúc khác, như khi nghe một kiệt tác âm nhạc, không có gì là dư, là thừa hay thiếu ở đây. Đừng sửa tác giả. Đừng vẽ rắn thêm chân, kẻo làm hỏng hết kiệt tác đấy ! 2. Người làm chứng Làm chứng là một khái niệm và một chức năng quan trọng bậc nhất trong sách Tin Mừng thứ tư, vì Tin Mừng này muốn đưa chúng ta theo Chúa Giê-su Ki-tô vào trong lòng Thiên Chúa Cha, nơi Người vẫn ở tự đời đời, từ trước khi có trời đất, và Người đến làm người, cư ngụ giữa chúng ta trên mặt đất này, trong một giai đoạn lịch sử nhất định, để khi “bỏ thế gian mà về cùng Cha” thì đưa chúng ta vào trong lòng Chúa Cha cùng với Người “Thầy đi dọn chỗ cho anh em, rồi Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu thì anh em cũng được ở đó với Thầy” Ga 14,3. Nội dung của Tin Mừng là Thiên Chúa bày tỏ tột đỉnh Tình Yêu của Ngài đối với loài người chúng ta. “Thiên Chúa thì chưa có ai thấy bao giờ”. Chỉ có Con Một vốn ở trong lòng Cha mà đến mới có thể kể ra cho chúng ta, kể bằng chính bản thân, bằng lời nói và việc làm, bằng chính cuộc sống và chính mạng sống của Ngài nữa. Người làm chứng là người đem tính mạng của mình để bảo đảm rằng lời mình nói là đúng sự thật. Từ Hy-lạp và La-tinh “MARTYR” mà chúng ta dịch là TỬ VÌ ĐẠO, thì ý nghĩa chung của nó là “người làm chứng”. Áp dụng vào người đem mạng sống của mình ra làm chứng về đức tin, chúng ta gọi là “tử vì đạo”. Con Một Thiên Chúa đã nên một trong chúng ta để kể cho chúng ta về Thiên Chúa, Cha của Ngài và Cha của chúng ta, mà loài người chúng ta chưa ai được thấy, nên chúng ta tin là nhờ vào lời của Ngài thôi, vì thế Ngài là người làm chứng. Chúa Cha làm chứng về Ngài bằng cách cho Ngài quyền năng để làm những việc sức loài người không thể làm được, Ngài làm chứng về Chúa Cha và tình yêu của Chúa Cha bằng cách nói những lời Chúa Cha dạy Ngài nói và làm những việc Chúa Cha dạy Ngài làm x. Ga 5,19-20, cuối cùng bằng cách thí mạng sống mình để chứng tỏ Ngài yêu mến Chúa Cha và yêu mến chúng ta. Có một người Thiên Chúa sai đến làm chứng về Chúa Giê-su để mọi người nhờ ông mà tin rằng Chúa Giê-su quả là Đấng Thiên Chúa sai đến, đó là ông Gio-an Tẩy Giả. Ông cũng đã làm chứng bằng chính mạng sống của mình. “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ đi”, tới số không, “dê-rô” ! x. Ga 3,30. Mấy môn đệ của ông Gio-an trở thành những người đầu tiên đã tin vào Chúa Giê-su và trở thành những môn đệ đầu tiên của Chúa Giê-su x. Ga 1,36-39. Trước khi Chúa Giê-su bị nộp, vì giờ của Ngài chưa đến, Ngài lánh về nơi ông Gio-an đã làm chứng về Ngài, ở Bê-ta-ni-a bên kia sông Gio-đan, thì chúng ta được biết ở đó “Họ bảo nhau Ông Gio-an đã không làm một dấu lạ nào cả, nhưng mọi điều ông ấy nói về người này đều đúng’. Ở đó, nhiều người đã tin vào Đức Giê-su.” Ga 10,41-42.

đọc tin mừng như thế nào